(Dân sinh) – Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ, một trong những điểm mới rất quan trọng của Nghị quyết 42 là đã mở rộng ra toàn bộ các nhóm chính sách xã hội cho tất cả các đối tượng; hướng tới mục tiêu năm 2045, Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có chỉ số phát triển con người (HDI) cao trên thế giới.

Sáng 4/12, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Thủ tướng Phạm Minh Chính quán triệt Nghị quyết 42 về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn mới”

Tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII, Ban Chấp hành Trung ương đã bám sát Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp, các quan điểm và định hướng của Đảng về chính sách xã hội qua các kỳ Đại hội, nhất là Đại hội XIII;

Và kết quả tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 1/6/2012 một số vấn đề về chính sách xã hội, dành nhiều thời gian thảo luận một cách dân chủ và đã thống nhất cao ban hành Nghị quyết mới (Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023) về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới”.

Chính sách người có công được đặc biệt quan tâm và thực hiện tốt

Trình bày chuyên đề về nội dung này tại Hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính tập trung vào một số vấn đề trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết, Thủ tướng nêu rõ: “Đại hội XIII của Đảng xác định rõ 3 đột phá chiến lược về thể chế, nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng; trong đó nguồn nhân lực được xác định là yếu tố then chốt cho phát triển bền vững”.

Thủ tướng khẳng định, sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 15 về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020, chúng ta cơ bản đạt được mục tiêu tổng quát đã đề ra.

Cụ thể, thứ nhất, chính sách ưu đãi, tôn vinh người có công với cách mạng được đặc biệt quan tâm và thực hiện tốt. Đối tượng người có công với cách mạng được mở rộng với chế độ và chính sách ưu đãi phù hợp.

Hiện có trên 1,2 triệu người có công và thân nhân đang hưởng chế độ ưu đãi hằng tháng; 98,6% gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình trên địa bàn.

Thứ hai, việc bảo đảm an sinh xã hội chuyển từ hỗ trợ nhân đạo sang bảo đảm quyền an sinh của công dân. Số người hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên tăng hằng năm và đạt 3,3 triệu người năm 2022.

Thủ tướng khẳng định, trong 3 năm phòng, chống dịch COVID-19, đã hỗ trợ với số tiền trên 120.000 tỷ đồng và trên 200.000 tấn gạo hỗ trợ cho trên 68 triệu lượt người dân, người lao động gặp khó khăn.

“Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, đồng thời huy động, phát huy vai trò quan trọng của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, thị trường và ý chí tự lực, tự cường của người dân. Đã dành nguồn lực khoảng 20% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho chính sách xã hội”, Người đứng đầu Chính phủ cho biết.

Bên cạnh đó, thể chế về thị trường lao động từng bước được hoàn thiện; cơ bản bảo đảm cung cầu lao động. Tỉ lệ thất nghiệp ổn định dưới 3%, thất nghiệp thành thị dưới 4%.

Các đại biểu dự Hội nghị tại điểm cầu Trung ương tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hộ

Diện bao phủ BHXH không ngừng được mở rộng

Thứ ba, công tác giảm nghèo đạt kết quả nổi bật; đời sống của người dân ngày càng được cải thiện. Tỉ lệ hộ nghèo từ gần 60% vào năm 1986 giảm xuống còn dưới 3% vào năm 2022. GDP bình quân đầu người tăng từ 86 USD năm 1986 lên 4.110 USD năm 2022.

Việt Nam về đích trước thời hạn theo mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG) và Phát triển bền vững (SDG) của Liên Hợp Quốc; là điểm sáng trong toàn cầu, được nhân dân cả nước và cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Điểm nổi bật nữa trong chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020 được Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ ra, đó là diện bao phủ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp không ngừng được mở rộng. 

Năm 2022, tỉ lệ tham gia BHXH đạt 38,08% và bảo hiểm thất nghiệp đạt 31,18% lực lượng lao động trong độ tuổi; tỉ lệ tham gia BHXH tự nguyện ngày càng tăng (đến nay đạt 1,46 triệu người).

Thứ năm, người dân tiếp cận ngày càng tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản. Về giáo dục, trẻ em đi học đúng tuổi cấp tiểu học đạt 99% từ năm 2015, cấp trung học cơ sở đạt trên 95% từ năm 2020.

Năm 2022, 92% người dân tham gia BHYT; 90% trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ…

Về nhà ở, Người đứng đầu Chính phủ nêu, đến năm 2020, đã hỗ trợ chỗ ở cho 648.000 hộ nghèo nông thôn, 323.000 căn nhà cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn. Đến năm 2021, 90% người dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh.

Về tiếp cận thông tin, năm 2016, 100% xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo được phủ sóng phát thanh và truyền hình mặt đất; đến năm 2020, 100% các xã có đài truyền thanh…

“Đánh giá chung, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân khắp mọi miền đất nước được nâng lên rõ rệt; diện mạo xã hội thay đổi căn bản; kinh tế, xã hội phát triển toàn diện và hài hòa hơn; đem lại sự hài lòng và củng cố niềm tin của người dân, khẳng định tính ưu việt của chế độ XHCN ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng…”, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh.

Xây dựng chính sách ASXH toàn diện, đa tầng và bao trùm hơn

Về sự cần thiết ban hành Nghị quyết mới về đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, Thủ tướng cho biết sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 15, chúng ta cơ bản đã đạt được mục tiêu tổng quát đã đề ra.

Theo Thủ tướng, bối cảnh mới và thực tiễn quản lý phát triển xã hội đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục rà soát, hoàn thiện, xây dựng chính sách an sinh xã hội toàn diện hơn, đa tầng hơn, hiện đại hơn, bao trùm và bền vững hơn, bảo đảm an sinh, an ninh, an dân, nhất là trước những cú sốc và nỗ lực phấn đấu vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Cùng với sự phát triển của đất nước, nhu cầu của nhân dân về thụ hưởng các chính sách xã hội ngày càng cao hơn cả về số lượng và chất lượng, trong đó có tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ, Nghị quyết Đại hội XIII yêu cầu nhận thức đầy đủ và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong các chính sách xã hội; tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, tính bền vững trong các chính sách xã hội, nhất là phúc lợi xã hội, an ninh xã hội, an ninh con người…

Phân tích về một số mô hình chính sách xã hội điển hình trên thế giới hiện nay, Thủ tướng nêu rõ, “chúng ta lựa chọn mô hình chính sách xã hội phù hợp với đặc điểm, điều kiện, hoàn cảnh nước ta”.

Quán triệt Nghị quyết 42 về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn mới”, Thủ tướng nêu rõ quan điểm ban hành Nghị quyết là chăm lo cho con người, vì con người, lấy con người làm trung tâm, là mục tiêu, động lực, nguồn lực để phát triển bền vững đất nước.

Đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội theo hướng toàn diện, hiện đại, bao trùm, bền vững; Đầu tư cho chính xã hội hội là đầu tư cho phát triển.

Thủ tướng đặc biệt nhấn mạnh việc đổi mới công tác quản lý, tăng cường phân cấp, phân quyền, phát huy vai trò chủ thể của nhân dân. Đồng thời, ông nêu rõ thêm, phân cấp, phân quyền thì phải đi đôi với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi; tăng cường giám sát, kiểm tra, kiểm soát đầu ra. Hiện nay chúng ta đang tập trung kiểm soát đầu vào.

“Đặc biệt phải phát huy tính chủ động sáng tạo của người dân. Vấn đề là chúng ta có cơ chế chính sách để cho họ phát huy tối đa năng lực sáng tạo, tính chủ động. Đây là cơ chế chính sách, đây là việc Nhà nước phải làm”, Thủ tướng nói.

Nghị quyết 42 đặt mục tiêu xây dựng hệ thống chính sách xã hội theo hướng bền vững, tiến bộ và công bằng, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, góp phần cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Đồng thời, chỉ rõ một số điểm trọng tâm cần lưu ý trong Nghị quyết 42, Thủ tướng nhấn mạnh việc tập trung xây dựng và phát triển thị trường lao động linh hoạt, đa dạng, hiệu quả, bền vững và hội nhập (bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực).

Mọi người dân được bảo đảm tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản (giáo dục, y tế, văn hoá, thông tin, nhà ở, nước sạch, vệ sinh môi trường).

Về xây dựng nhà ở xã hội, Thủ tướng nhấn mạnh về Đề án xây dựng ít nhất 1 triệu căn nhà ở xã hội đến năm 2030; xoá bỏ nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, cận nghèo, người bị ảnh hưởng bởi thiên tai.

Ông cho biết Chính phủ đang triển khai thí điểm việc này tại Hà Giang, Cao Bằng và phấn đấu trong nhiệm kỳ này sẽ hoàn thành việc xóa bỏ nhà tạm, nhà dột nát.

Đến 2030: Tỉ lệ thất nghiệp chung dưới 3%

Để đạt được các mục tiêu trên, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ những mục tiêu chủ yếu đến năm 2030, trong đó có đảm bảo 100% người có công và gia đình người có công với cách mạng được chăm lo toàn diện về vật chất, tinh thần;

Tỉ lệ thất nghiệp chung dưới 3%; 60% người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội và trợ cấp hưu trí xã hội;

Trên 95% dân số tham gia bảo hiểm y tế; 95% người dân sử dụng dịch vụ chăm sóc ban đầu tại cơ sở đực bảo hiểm y tế chi trả; xây dựng được ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp…

Về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong thời gian tới, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ những điểm mới mang tính tổng thể, hệ thống, toàn diện.

Một là nhóm nhiệm vụ nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò chính sách xã hội. Để làm được, phải tăng cường truyền thông, quyết tâm xây dựng và thực hiện chính sách xã hội theo hướng bền vững.

Nhóm giải pháp thứ hai, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về chính sách xã hội. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về chính sách xã hội, đảm bảo đồng bộ thống nhất khả thi phù hợp và tiệm cận với tiêu chuẩn quốc tế.

“Nhóm thứ ba là nhiệm vụ thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng. Quan tâm hơn nữa, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của người có công. Tiếp tục nâng cao mức chuẩn trợ cấp phụ cấp ưu đãi để có chính sách ưu tiên trong chăm sóc sức khỏe nhà ở, giáo dục đào tạo, việc làm, sản xuất, tiếp cận các dịch vụ xã hội”, Thủ tướng nêu rõ.

Ông cũng nhấn mạnh việc Bộ Chính trị ban hành kế hoạch thực hiện Nghị quyết; lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ, kịp thời, tạo chuyển biến trong nhận thức, hành động của cả hệ thống chính trị về chính sách xã hội.

Các tỉnh ủy, thành ủy thực hiện Nghị quyết phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, định kỳ kiểm tra, đánh giá việc thực hiện. Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo, cụ thể hóa, hoàn thiện hệ thống pháp luật về chính sách xã hội, sớm đưa nội dung Nghị quyết vào cuộc sống.

Nghị quyết 42 đề ra 37 chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2030, trong đó một số chỉ tiêu chủ yếu sau:

– Bảo đảm 100% người có công và gia đình người có công với cách mạng có mức sống từ trung bình khá trở lên

– Tỷ lệ thất nghiệp chung dưới 3%, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị dưới 4%;

– 60% lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tham gia bảo hiểm xã hội và 45% lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp

– Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ mẫu giáo từ 3 đến 5 tuổi

– Xây dựng được ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp; xoá bỏ hoàn toàn tình trạng nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu.

– Diện tích nhà ở bình quân đầu người toàn quốc đạt khoảng 30 m2 sàn/người….

 Thanh Nhung

.

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *